Phi lộ – Năm 2016 là dịp kỷ niệm 70 Đức Mẹ hiện ra tại La Salette, xin mời tham khảo và nhớ lại mệnh lệnh của Đức Mẹ, đặc biệt trong Tháng Mười...
Đức tin và niềm hy vọng được gặp Chúa Giêsu mang lại niềm vui cho chúng ta chứ không phải những học thuyết lạnh lùng. Những Kitô hữu nào...
Giáo Hội là mẹ không bao giờ bỏ rơi gia đình, cả khi nó bị ngã qụy, mang thương tích và bị hành nhục trong biết bao nhiêu...
Hơn 125,000 Kitô hữu Iraq đã buộc phải trốn khỏi quê cha đất tổ nơi họ từng sống gần 2,000 năm nay sau khi bị ISIS đe dọa và cưỡng bức. Ngày 22...
Ơn Cố Vấn Giúp Chúng Ta Sống Theo Ý Muốn Của Thiên Chúa   Với ơn cố vấn Chúa Thánh Thần khiến cho chúng ta nhậy...
Đức Thánh Cha Tiếp Kiến Đức Tổng Thượng Phụ Arméni Tông Truyền   VATICAN. Trong buổi gặp gỡ Đức Tổng Thượng Phụ Karekin II của...

Tìm kiếm nhạc

Album



Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
11 : CHÚA THÁNH THẦN TRONG ĐỜI SỐNG BÍ TÍCH

hinh bo cauhinh bo cauhinh bo cau

hinh chua giesu

hinh 111hoa 8hinh 111

hinh 112hoa 2hinh 112

CHƯƠNG XI :

CHÚA THÁNH THẦN TRONG ĐỜI SỐNG BÍ TÍCH

ĐGM Phaolô Bùi Văn Đọc



I. CHÚA THÁNH THẦN VÀ SỰ KHAI SINH GIÁO HỘI

Giáo Hội khai sinh từ mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.

Để trả lời cho câu hỏi Giáo Hội khai sinh lúc nào và như thế nào, có ba cách trả lời khác nhau, tùy theo quan điểm thần học :

-  Giáo Hội khai sinh dưới chân thập giá (Ga 19,25-37)

- Giáo Hội khai sinh khi Đức Kitô sống lại hiện ra với các tông đồ và trao sứ vụ cho họ (Ga 20, 19-23)

- Giáo Hội khai sinh vào ngày Lễ Ngũ Tuần, lúc Chúa Thánh Thần hiện xuống (Cv 2,1-44)


A. GIÁO HỘI KHAI SINH DƯỚI CHÂN THẬP GIÁ CỦA CHÚA GIÊSU(Ga 19,25-37)

Quan điểm này nhấn mạnh ơn cứu độ đến từ thập giá Chúa Giêsu. Thập giá là trọng tâm, là chóp đỉnh của lịch sử cứu độ. Thập giá là Thánh giá vinh quang. Giờ Chúa Giêsu chịu chết, chính là giờ Người được siêu tôn, được giương cao lên để lôi kéo mọi người về với mình (Ga 12,32).

Quan điểm này rất cơ bản và có giá trị, nhưng chỉ có ý nghĩa khi chúng ta biết đọc ngôn ngữ biểu tượng của Thánh Gioan, hiểu được các hình ảnh thánh Gioan dùng và nắm bắt được thần học của ngài. Ví dụ khi chúng ta biết “trông lên con người bị đâm thâu” từ “cạnh sườn có Nước và Máu chảy ra”. Nước từ cạnh sườn giống như nước từ bên hông đền thờ chảy ra, và nước ấy chảy đến đâu thì mọi vật đều được sống (Ed 47,1-12). Trong tin mừng Gioan, chính Chúa Giêsu đã tự ví mình như Đền thờ (Ga 2,9). Chúa Thánh Thần, chính là Nước từ bên hông Đền Thờ, từ cạnh sườn Chúa Giêsu chảy ra, để thanh tẩy, tái sinh cho những tín hữu đầu tiên là những con người đứng dưới chân thập giá : một số phụ nữ đạo đức đã đi theo Chúa Giêsu, ông Nicôđêmô, ông Giuse Arimathia, nhưng đặc biệt là Thánh Gioan và Đức Maria, mẹ Chúa Giêsu. Phép rửa được thực hiện ngay khi Nước và Máu chảy ra từ cạnh sườn của Chúa. Từ cạnh sườn của Adam mới sinh ra Eva mới là Hội Thánh. Những người đứng dưới chân Thập giá là những người đầu tiên được thanh tẩy trong Thánh Thần. Hội Thánh khai sinh từ mầu nhiệm Vượt qua của Đức Kitô, sinh ra trong Nước Sự Sống chảy từ Cạnh Sườn của Con Người Vượt Qua.


B. GIÁO HỘI KHAI SINH KHI ĐỨC KITÔ PHỤC SINH HIỆN RA

VÀ TRAO SỨ VỤ CHO CÁC TÔNG ĐỒ (Ga 20,19-23

Quan điểm này nhấn mạnh việc gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh. Dĩ nhiên sự gặp gỡ này do sáng kiến của chính Đức Kitô Phục Sinh. Sau khi sống lại, Đức Kitô hiện ra với các tông đồ và trao lại cho họ sứ vụ mà Chúa Cha đã trao phó cho Người : “như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21). Rồi Người thổi hơi trên họ và nói : “Hãy nhận lãnh Thánh Thần, anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha, anh em cầm tội ai, thì người ấy bị cầm lại” (Ga 20,23)

Dù quan điểm nàynhấn mạnh việc gặp gỡ Chúa Phục Sinh, vẫn không quên dấu vết cuộc khổ nạn. Chúa Phục Sinh đã cho các tông đồ xem tay và cạnh sườn Người (Ga 20,20).

Ngoài ra, những thành ngữ như “ngày thứ nhất trong tuần”, “Người thổi hơi trên các ông”… cho thấy tác giả quan niệm Phục Sinh như một Tạo Dựng Mới. Giáo Hội là nhân loại mới khai sinh trong hơi thở thần linh của Đấng Chúa Phục Sinh là Chúa Thánh Thần.

 

C. GIÁO HỘI KHAI SINH

VÀO NGÀY CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG (Cv 2,1-44)

Quan điểm thứ ba này nhấn mạnh việc Đức Kitô được siêu tôn ngự bên hữu Chúa Cha và đã nhận lãnh Chúa Thánh Thần và đổ xuống vào ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2,1-44). Nhiều hơn các tác giả Tân Ước khác, sách công vụ nhấn mạnh đến tác động của Chúa Thánh Thần sau khi Chúa Kitô Phục Sinh. Hơn thế nữa còn nhấn mạnh tương quan mật thiết giữa chứng từ của các tông đồ và chứng từ của Thánh Thần. Khi chưa có Thánh Thần, các Tông đồ còn sợ hãi, chưa dám lên tiếng rao giảng, vả lại các ngài chưa hiểu thấu được ý nghĩa của việc Chúa Giêsu chịu đóng đinh, làm sao họ có thể rao giảng. Mà chưa có ai rao giảng thì chưa có người tin, chưa có Giáo hội. “Tin bởi nghe”, đó là điều mà tác giả sách Công vụ cùng với Phaolô xác tín. Các chi thể của Giáo hội sinh ra nhờ lời rao giảng của các Tông đồ trong quyền năng của Thiên Chúa là Chúa Thánh Thần.

Chính biến cố Ngũ tuần đã sinh ra một Dân Mới. Dân này là Dân Tiên Tri vì đã lãnh nhận tràn đầy Thánh Thần :

“Ta sẽ đổ Thần Khí Ta trên mọi xác phàm,
và con trai con gái các ngươi sẽ tuyên sấm,
thanh niên của các ngươi sẽ thấy thị kiến,
kẻ già lão trong các ngươi sẽ chiêm điềm mộng,
và cả trên các tôi trai tớ gái của Ta,
Trong những ngày ấy,
Ta sẽ đổ Thần Khí Ta xuống,
và chúng sẽ nói tiên tri”
(Cv 2,17-18)

Dù quan điểm thứ ba này nhấn mạnh đặc biệt đến vai trò chủ động của Chúa Thánh Thần và các tông đồ, vẫn không thể nào bỏ qua cuộc khổ nạn của Chúa, trái lại trọng tâm của lời rao giảng, chính là việc Chúa Giêsu, Đấng đã bị đóng đinh, đã được Chúa Cha cho sống lại từ trong kẻ chết và đã trở thành Đấng Chúa, Đấng Kitô tràn đầy Thánh Thần. Giáo Hội là cộng đoàn những người tin vào lời rao giảng của các tông đồ nhờ tác động của Thánh Thần phục sinh.

 

II. THÁNH THẦN VÀ PHÉP RỬA

Vai trò của Chúa Thánh Thần nổi bật trong một số định nghĩa phép Rửa trong Tân ước. Chúng ta chỉ khám phá được điều này dựa vào khoa Thánh Linh học hôm nay. Ngày nay, dựa vào khoa Kinh Thánh, thần học có thể nói nhiều điều về Chúa Thánh Thần, mà trước đây không nói, hoặc do dự chưa dám nói. Chúa Thánh Thần không những là Tình Yêu của Thiên Chúa, mà còn là Thần lực, là Sức mạnh của Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần là Sự sống của Thiên Chúa, là Thần Khí của Thiên Chúa. Người còn là Vinh quang, là Quyền năng của Thiên Chúa. Người là sự Thánh thiện của Thiên Chúa. Tất cả những ưu điểm của Thiên Chúa như cô đọng lại trong ngôi vị Thánh Thần. Sách giáo lý mới của Giáo hội công giáo xác nhận điều này và có nói tới rất nhiều hình ảnh Kinh thánh dùng để chỉ Thánh Thần, mà trước đây chúng ta chưa biết hết : Thánh Thần là Nước Sự Sống, là Dầu xức, là Lửa Thiêng, là Đám mâyCột sáng, là Ấn tín, là Bàn tay, là Ngón tay của Thiên Chúa…

Nhờ những khám phá của khoa kinh thánh và thần học về Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể hiểu cách sâu sắc và chính xác hơn các định nghĩa phép rửa của Tân Ước. Chúng ta nên dừng lại một số định nghĩa quan trọng của Phaolô và Gioan, để có thể hiểu và sống phép rửa một cách sâu xa :

 

A. CHỊU PHÉP RỬA LÀ “ĐƯỢC TẨY RỬA, ĐƯỢC TÁC THÁNH, ĐƯỢC CÔNG CHÍNH HOÁ NHÂN DANH ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ TRONG THẦN KHÍ CỦA THIÊN CHÚA” (1Cr 6,11)

Định nghĩa trên đây của Phaolô gần như hoàn hảo, vì bao gồm đầy đủ các yếu tố :

- Tẩy rửa : Người đã chịu phép rửa trước hết là người đã được tẩy rửa cách trọn vẹn nhờ Thánh Thần. Nước vật chất được dùng khi rửa tội thực sự chỉ là biểu tượng, là dấu chỉ hữu hình của thực tại vô hình là Thánh Thần, Đấng có khả năng thanh tẩy chúng ta cách trọn vẹn, vì Người là sự thánh thiện của Thiên Chúa, là ơn Tha thứ của Thiên Chúa. Chỉ một mình Người mới có thể xóa hết mọi tội lỗi của chúng ta.

- Tác Thánh : Người chịu phép rửa là người được hiến thánh dành riêng cho Thiên Chúa. Người chịu phép rửa là người thuộc trọn về Thiên Chúa, không còn thuộc về thế gian nữa. Ơn gọi phép rửa là ơn gọi từ bỏ thế gian để thuộc về Thiên Chúa một cách trọn vẹn, dứt khóat. Chúng ta được tác thánh trong Thánh Thần có nghĩa là nhờ Thánh Thần mà ta được thuộc về Thiên Chúa, là sở hữu của Thiên Chúa. Thánh Thần là tình yêu keo sơn của Thiên Chúa, là dây ràng buộc chúng ta với Thiên Chúa. Đức Kitô tác thánh chúng ta bằng Thánh Thần của Người là Tình yêu của Người đối với Thiên Chúa.

- Công chính hoá : Người chịu phép rửa là người được công chính hóa nhân danh Đức Kitô và trong Thần Khí của Người. Chúng ta được công chính hóa, được cứu độ nhờ tin vào Đức Kitô, và chỉ có thể tin vào Đức Kitô nhờ Thánh Thần. Kinh thánh Tân Ước có chỗ gọi Thánh Thần là Ơn Công chính : “Người đã bị phó nộp vì các lỗi lầm của ta, và đã sống lại là để cho ta được ơn công chính” (Rm 4,25). Ơn công chính ở đây là sự sống thần linh, sự sống của Đức Kitô phục sinh, là Thần Khí phục sinh.

 

B. CHỊU PHÉP RỬA LÀ “ĐƯỢC THÁP NHẬP VÀO THÂN MÌNH ĐỘC NHẤT CỦA ĐỨC KITÔ BỞI THẦN KHÍ ĐỘC NHẤT CỦA NGƯỜI” (1Cr 12,13)

Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép Rửa (Ep 4,5), và phép Rửa ấy là phép Rửa của Đức Kitô. Gioan Tẩy Giả chỉ thanh tẩy bằng nước, còn Đức Giêsu mà Gioan loan báo mới là Đấng thanh tẩy bằng Thánh Thần (Mc 1,8 ; Ga 1,31-34).

Trong thư 1 Côrintô, Phaolô định nghĩa phép Rửa một cách khác, nhấn mạnh nhiều hơn chiều kích Giáo Hội của phép Rửa : “trong Thần Khí độc nhất, tất cả chúng ta, nhờ thanh tẩy, mà nhập vào Thân Mình độc nhất, dù Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do ; và hết thảy chúng ta đều được cùng uống Thần Khí độc nhất” (1Cr 12,13).

Mọi người chúng ta đều nhận lãnh một phép Rửa duy nhất, đó là phép Rửa của Đức Giêsu Kitô. Đức Kitô là Đấng ban phép Rửa trong Thánh Thần. Chính vì thế mà tất cả chúng ta đều chịu phép Rửa trong Thánh Thần duy nhất, đó là Thánh Thần của Đức Kitô. Và Thánh Thần duy nhất ấy tháp nhập chúng ta vào với Chúa Kitô, làm cho chúng ta trở nên chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô. Khi đã trở thành chi thể của cùng một Nhiệm Thể, hết thảy chúng ta cùng uống một Thánh Thần độc nhất là Nước Sự Sống chảy ra từ Tảng đá là Đức Kitô (1Cr 10,4). Như xưa trong Cựu Ước, Môsê lấy gập đập vào tảng đá khiến cho nước chảy ra, Đức Kitô, khi bị treo trên thập giá, bị lưỡi đòng đâm thâu cạnh sườn, tức thì có Nước và Máu chảy ra (Ga 19,24). Theo các giáo phụ, thì Nước ấy vừa ám chỉ phép Rửa Kitô giáo, vừa chỉ Chúa Thánh Thần. Chúng ta có thể tổng hợp lại và khẳng dịnh đó là phép Rửa của Đức Giêsu Kitô bằng Thánh Thần và trong Thánh Thần . Chúng ta uống cùng một Thánh Thần là Nước Sự Sống mà chỉ một mình Đức Kitô ban cho : “Ai khát hãy đến cùng Ta, hãy uống kẻ tin vào Ta” (Ga 7,37-38).

Thánh Irênê nói : “Ở đâu có Giáo Hội, ở đó có Thánh Thần”. Giáo Hội là môi trường sinh sống, nơi đó ta được cùng ăn thịt Mình của Chúa, cùng uống Thần Khí của Chúa. Vế thứ hai trong câu nói của Irêne cũng quan trọng : “Đâu có Thánh Thần , đó có Giáo Hội”. Sự hiện diện của Thánh Thần làm phát sinh các chi thể mới cho Nhiệm Thể Chúa Kitô.

 

C. CHỊU PHÉP RỬA LÀ “ĐỰƠC TÁI SINH BỞI NUỚC VÀ THẦN KHÍ” (Ga 3,5-6)

Phép Rửa Kitô giáo còn được gọi là phép Rửa tái sinh. Người Kitô hữu được sinh ra cho sự sống mới bởi Nước Và Thần khí (Ga 3,5). Sự tái sinh này làm cho con người không còn thuộc lãnh vực xác phàm nữa, mà thuộc lãnh vực Thần Khí : “Sự gì sinh bởi xác thịt là xác thịt, và sự gì sinh bởi Thần Khí là Thần Khí” (Ga 3,6). Có sinh bởi Thần Khí, mới được vào Nước Thiên Chúa, vì đó không phải là Nước thế gian, mà là Nước Trời, thuộc lãnh vực thần thiêng.

Sự tái sinh này là một sự thay đổi tận gốc mà chỉ một mình Thánh Thần có thể thực hiện. Chính Thánh Thần chuẩn bị và hoàn tất việc tái sinh.

 

D. CHỊU PHÉP RỬA LÀ “ĐƯỢC MAI TÁNG VƠI CHÚA KITÔ ĐỂ CÙNG SỐNG LẠI VỚI NGƯỜI” (Rm 6,4)

Sự sống mới trong phép Rửa có được là nhờ thông phần với Sự Sống của Đức Kitô phục sinh là Adam mới. Trong thư Rôma, Phaolô nói rất rõ về phép Rửa : “Hết thảy ta đã được thanh tẩy trong Đức Kitô Giêsu, thì chính trong sự chết của Người mà ta được thanh tẩy, ta đã được mai táng làm một với Người trong sự chết, ngõ hầu như Đức Kitô, nhờ bởi vinh quang của Cha, đã được sống lại từ cõi chết, thì cả ta nữa, ta cũng bước đi trong đời sống mới” (Rm 6,3-4)

Phaolô dùng hình ảnh “mai táng”, vì ngày xưa khi ban phép Rửa Tội, người ta dìm hẳn người dự tòng xuống nước, ám chỉ sự chết đi đối với thế gian. Người dự tòng phải đóng đinh con người cũ, phải bị giết chết như Chúa Giêsu để rồi sống lại với Người nhờ Thần Khí của Thiên Chúa cũng là Thánh Thần phục sinh. Thánh Thần phục sinh hoạt động nơi Đức Kitô như thế nào, thì cũng hoạt động nơi những người kitô hữu như vậy. Chịu phép Rửa là “lột bỏ con người cũ với các hành vi của nó, và mặc lấy con người mới” (Cl 3,9-10).

Trên bình diện khách quan, khi chịu phép Rửa từ lúc nhỏ, chúng ta đã nhận lãnh sự sống thần linh, được tháp nhập vào Đức Kitô phục sinh, trở thành chi thể sống của Hội Thánh, trở thành người mà Phaolô gọi là “thánh hữu” (1Cr 1,2). Nhưng trên một bình diện khác, mỗi người chúng ta đều có tự do, nên khi lớn lên, chính chúng ta đã tạo cho chúng ta những sợi dây trói buộc khi chúng ta phạm tội, khiến cho sự sống thần linh, sự sống của Đức Kitô Phục sinh không luân chuyển trong con người chúng ta. Ngày nay sống ơn gọi phép Rửa là không ngừng cởi trói cho mình, để Sự Sống của Đức Kitô có thể ùa vào trong ta. Bao lâu còn ở trần gian, ta không thể nào cởi trói cho mình hết được, nhưng mỗi ngày được cởi trói, được giải thoát hơn nữa, mỗi ngày được thêm sự sống. Thánh Thần không ngừng thanh tẩy chúng ta khi chúng ta chịu phép Rửa, và Người vẫn tiếp tục không ngừng thanh tẩy chúng ta

 

E. CHỊU PHÉP RỬA LÀ ĐƯỢC THIÊN CHÚA XỨC DẦU THÁNH THẦN TRONG ĐỨC KITÔ

Đức Giêsu được gọi là Kitô, vì đã được Chúa cha xức dầu Thánh Thần và sai đi rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa. Tư cách Đấng được Cha xức dầu Thánh Thần biểu lộ nhiều lần, mà quan trọng hơn cả là lúc Đức Giêsu chịu phép Rửa (Mt 3,13-17 ; Mc 2,9-11 ; Lc 3,21-22). Riêng đoạn Lc 4,16-21 trích Is 61,1… nói rõ hơn cả sứ mạng của Đấng Messia, tức là Kitô, Đấng được Thiên Chúa xức dầu Thánh Thần và sai đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó. Tư cách này còn được biểu lộ lúc Đức Giêsu chịu phép thanh tẩy bằng máu trên thập giá và được Chúa Cha siêu tôn, đặt làm Kitô và làm Chúa (Cv 2,36).

Khi chịu phép Rửa, chúng ta được thông phần dầu xức của Đức Kitô là Thánh Thần, được hiến thánh và sai đi như Đức Kitô. Trong Tân Ước, có mọt số chỗ, khi đề cập đến người Kitô hữu và phép Rửa mà họ lãnh nhận, hoặc Thánh Thần mà họ đã lãnh nhận qua phép Rửa, dùng danh từ “dầu xức” hay động từ “xức dầu” :

“Về phần anh em, dầu xức mà anh em đã lãnh nơi Người hiện lưu lại trong anh em, nên anh em không cần nhờ ai dạy bảo. Như dầu xức của Người dạy anh em về hết mọi sự, và là sự thật, không phải sự dối trá, nên chiếu theo điều kiện xức dầu đã dạy, anh em hãy lưu lại trong Ngài” (1 Ga 2,27).

“Đấng đã làm cho chúng tôi cùng với anh em được kiên cố trong Đức Kitô và đã xức dầu cho chúng ta là chính Thiên Chúa… chính Người cũng đã niêm ấn của Người trên chúng ta và ban cho chúng ta bảo chứng Thần Khí của Người” (2Cr 1,21-22).

 

III. THÁNH THẦN VÀ BÍ TÍCH THÊM SỨC

1. Mỗi người chịu phép Thêm Sức đều nhận lãnh và làm thành sở hữu của mình ơn Thánh Thần đã được ban cho Giáo Hội. Ngày cử hành Bí tích Thêm Sức, Thánh Thần của Giáo Hội được chuyển thông cho từng ngừơi nhận lãnh bí tích.

So với Thần Khí ban đầu hay Thần Lực tái sinh mà người kitô hữu nhận lãnh khi chịu phép Rửa, thì Thánh Thần được ban cho trong phép Thêm Sức là Thần Lực hoạt động trong Giáo Hội, Thánh Thần không ngừng phục vụ Chúa Kitô trong Giáo Hội và làm chứng về Chúa Kitô cho nhân loại.

Chúng ta nhận lãnh Bí tích Thêm Sức, để có kinh nghiệm về sự hoạt động của Thánh Thần giữa loài người. Giáo Hội không ngừng đào sâu kinh nghiệm này, và chúng ta được chia sẻ kinh nghiệm trong lòng Giáo Hội. Giáo Hội và mỗi người chúng ta trong lòng Giáo Hội phải không ngừng lớn lên trong Thần Khí. Bí tích Thêm Sức là dấu hiệu của sự triển nở của Giáo Hội và của mỗi người kitô hữu cho đến ngày đạt đến tầm vóc viên mãn của Đức Kitô.

Nhờ Bí tích Thêm Sức mà các kitô hữu dần dần thấu hiểu được rằng Thần Khí của Thiên Chúa, của Đức Kitô Phục sinh cũng là Thần Khí của Giáo Hội, vì đã được ban cho Giáo Hội. Thánh Thần lãnh nhận trong Bí tích Thêm Sức, càng ngày càng giúp cho chúng ta đi sâu vào các kinh nghiệm thiêng liêng, nghĩa là kinh nghiệm về Thiên Chúa nhờ Thánh Thần và trong Thánh Thần, dựa trên nền tảng vững chằc là Đức Kitô và Giáo Hội.

2. Theo Giáo lý cổ truyển của Hội thánh, khi chịu phép Thêm Sức, người kitô hữu lãnh nhận bảy ơn Chúa Thánh Thần. Thật ra con số bảy là một con số viên mãn, còn các ơn khác nhau thì dựa vào Is 11,1-2, nói về Thần Khí của Giavê đậu xuống trên Đấng Messia thuộc dòng tộc Đavit.

Chính vì dựa vào đoạn Is 11,1-2 mà thần học về Bí tích Thêm Sức có được ý nghĩa rất sâu xa. Thánh Thần mà người kitô hữu nhận lãnh khi chịu phép Thêm Sức là Thánh Thần của Đấng Messia. Người Kitô hữu như trở thành Messia cùng với Đấng Messia, là thành viên của dân Messia (peuple messianique). Người kitô hữu được xức dầu Thánh Thần và sai đi giống như Chúa Kitô.

Thánh Thần trong Bí tích Thêm Sức được nhìn dưới bảy khía cạnh khác nhau được gọi là bảy ơn :

- Ơn khôn ngoan : người khôn ngoan là người có nhiều kinh nghiệm, Bí tích Thêm Sức làm cho chúng ta trở nên một con người có nhiều kinh nghiệm thiêng liêng, kinh nghiệm về tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa.

- Ơn hiểu biết : nhờ Thánh Thần mà chúng ta được hiểu biết sâu xa về Thiên Chúa, nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa bằng đức tin. Thánh Thần đưa dẫn chúng ta vào tất cả sự thật (Ga 16,13), nghĩa là vào trong mầu nhiệm Chúa Kitô, Đấng mạc khải Thiên Chúa.

- Ơn phán đoán : nhờ Chúa Thánh Thần mà người kitô hữu có thể nhận định về các biến cố xảy ra, về các thực tại lịch sử và nhân văn, về xã hội và con người… đúng với quan điểm của Thiên Chúa, phù hợp với cái nhìn của Tin Mừng.

- Ơn tri thức : là ơn biết ứng dụng sự hiểu biết vào các hành động cụ thể trong đời sống ; là ơn biết sống đạo theo như ý muốn của Chúa Giêsu.

- Ơn sức mạnh : Chúa Thánh Thần là sức mạnh cho đời sống kitô hữu của chúng ta. Nhờ Người mà chúng ta có thể trung thành với Thiên Chúa đến cùng. Nhờ Người, chúng ta mới có thể đứng vững trong thử thách. Nhờ Chúa Thánh Thần chúng ta mới có đủ can đảm làm chứng cho Chúa Kitô trong đời sống.

- Ơn hiếu thảo : nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta mới trở nên giống Chúa Giêsu, người con hiếu thảo với Chúa Cha, luôn tin tưởng và yêu mến Chúa Cha, luôn muốn đẹp lòng Chúa Cha, luôn bận tâm thực hiện ý muốn của Chúa Cha.

- Ơn kính sợ : chúng ta phải là những con người thờ phượng Thiên Chúa trong Thánh Thần và chân lý. Theo Cựu Ước, kính sợ là đầu mối sự khôn ngoan. Kính sợ Thiên Chúa, chúng ta không bao giờ dám coi thường Thiên Chúa. Kính sợ còn là một cách kinh nghiệm sự siêu việt và vĩ đại khôn dò của Thiên Chúa.

3. Thành ngữ phép Thêm Sức mà tiếng việt quen dùng chỉ diễn tả được một trong bảy khía cạnh của ơn Chúa Thánh Thần trong giáo lý cổ truyền, đó là khía cạnh “sức mạnh”. Dĩ nhiên Bí tích Thêm Sức ban cho chúng ta sức mạnh siêu nhiên rất cần thiết cho đời sống kitô hữu, nhưng ơn của Bí tích Thêm Sức không dừng lại ở đây. Ngay cả Fauste de Riez, dù nhấn mạnh tối đa đến ơn sức mạnh, đã đưa ra ba khía cạnh khá cơ bản của ân sủng bí tích : - ơn thưởng nếm Thiên Chúa (le gout de Dieu), nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta mới có thể kinh nghiệm được sự dịu ngọt của Thiên Chúa ; - ơn khao khát sự sống đời đời làm cho chúng ta ao ước những sự trên trời ; - ơn trở nên con người thần thiêng giống Đức Kitô Chúa chúng ta.

Chúng ta còn có thể suy tư về Chúa Thánh Thần được ban trong Bí tích Thêm Sức một cách khác, cô đọng bảy ơn thành ba tác động chính của Chúa Thánh Thần, làm nổi bật ba đặc điểm cơ bản của Chúa Thánh Thần. Trước hết, Chúa Thánh Thần là Thần Chân Lý, Đấng làm cho chúng ta càng ngày càng đi sâu vào mạc khải, càng ngày càng thể hiện được điều mà Đức Giêsu cầu xin cho chúng ta : “sự sống đời đời là chúng nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật và duy nhất, và Đức Giêsu Kitô, Đấng Cha đã sai” (Ga 17,3). Chúa Thánh Thần còn là Sức Mạnh từ trên, là Quyền Năng của Thiên Chúa, là Thần Lực của Thiên Chúa làm cho chúng ta được vững mạnh trong đời sống đức tin, là động lực cho đời sống hàng ngày (1Tx 1,5 ; Gl 5,19-25). Điều cuối cùng cần phải nhấn mạnh là ơn Thông Hiệp ; Chúa Thánh Thần là Ngôi Vị Yêu Mến luôn nối kết chúng ta với Chúa Kitô vả Thiên Chúa. Không có Chúa Thánh Thần, chúng ta không thể nào gắn bó với Chúa Kitô, nên một với Chúa Kitô để hiệp thông với Thiên Chúa (2Cr 13,13). Chúa Thánh Thần còn là động lực của đời sống bác ái kitô hữu mà thư 1Cr 13 là hiến chương.


IV. THÁNH THẦN VÀ BÍ TÍCH GIAO HÒA

A. TỘI LỖI VÀ SỰ THÁNH THIỆN

Để hiểu sâu xa ý nghĩa của Bí tích Giao Hòa, thường gọi là Bí tích Giải Tội, trước hết chúng ta phải hiểu tội là gì. Và để hiểu tội theo định nghĩa kitô giáo, chúng ta phải hiểu thế nào là thánh thiện theo quan niệm kitô giáo.

Con ngừơi thánh thiện theo nghĩa kitô giáo là “con người đầy Thánh Thần”, nhờ gắn bó với Đức Kitô bằng đức tin và lòng mến.

Tội lỗi đối nghịch với sự thánh thiện, sự hiệp thông với Chúa và đi ngược với Thánh Thần. Nói theo kiểu thư Rôma, người tội lỗi “khuyết hẳn vinh quang Thiên Chúa” (Rm 3,23). Vinh quang của Thiên Chúa, chính là Thánh Thần của Thiên Chúa (SGL 690). Người tội lỗi không có Thánh Thần của Thiên Chúa là Đấng thánh hóa. Con người tội lỗi tự đóng kín mình và từ chối hiệp thông, mất nghĩa với Đức Kitô, đọa lạc khỏi giới ân sủng (Gl 5,4). Giới ân sủng là cảnh vực thần linh, là thế giới của Thánh Thần, vì Thánh Thần là ngôi vị ân sủng (SGL 733-736). Con người tội lỗi là con người sa đọa khỏi cảnh vực của Chúa Thánh Thần, rơi vào thế giới của thần dữ. Thế gian không thể lãnh nhậnThánh Thần (Ga 14,17). Người tội lỗi thuộc về thế gian, nên không thể lãnh nhận Thánh Thần.

Thiên Chúa giàu lòng thương xót, không muốn bỏ rơi tội nhân, nhưng luôn muốn cứu vớt họ, đưa họ trở về hiệp thông với chính mình Người. Người thực hiện điều đó nhờ Đức Giêsu Kitô. Con người chỉ có thể trở về với Thiên Chúa khi gặp gỡ Đức Kitô Vượt qua, được tháp nhập vào Đức Kitô và cùng vượt qua với Người. Thiên Chúa tha thứ tội lỗi khi ban Thánh Thần cho tội nhân, mặc dù tội nhân không xứng đáng, vì chính Thánh Thần là Ơn tha tội và là sự Thánh Thiện của Thiên Chúa.

Theo Phaolô, Thánh Thần là quyền năng, là Ân sủng phục sinh, là Ơn hiệp thông với Đức Kitô Tử Nạn và Phục sinh, là sức mạnh giúp vượt qua từ lãnh vực xác phàm sang lãnh vực thần khí.

Hoán cải là chỗi dậy và đi về cùng Cha (Lc 15,18), thông phần hành trình của Đức Kitô đi về cùng Cha (Ga 16,28). Chính Thánh Thần làm cho tội nhân có thể cùng hành trình vượt qua với Đức Kitô.


B. CHIỀU KÍCH BA NGÔI CỦA BÍ TÍCH GIAO HÒA

Khi nói đến ơn tha tội, trước hết chúng ta phải nói đến Đấng tha tội là chính Thiên Chúa Cha. Dù ta đã mất tình nghĩa vì bất trung với Người, Thiên Chúa Cha giàu lòng thương xót lôi kéo chúng ta, đưa chúng ta trở về với Người. Cũng như sáng kiến cứu độ, sáng kiến tha tội là của Chúa Cha. Cử hành Bí tích Giao Hòa là cử hành tình yêu của Chúa Cha giàu lòng thương xót, tha thứ cho hết mọi người, và cụ thể là tha thứ cho chúng ta.

Trong Bí tích Giao Hòa, chúng ta đón nhận tình yêu của Đấng đã hiến mạng sống vì những ngừơi mình yêu. Chúng ta cử hành tình yêu của Đức Giêsu biểu lộ bằng giá máu cứu chuộc đổ ra trên thập giá.

Chúng ta cũng cử hành tình yêu của Chúa Thánh Thần là ơn thông hiệp, kết hiệp chúng ta với Chúa Kitô, giao hòa chúng ta với Thiên Chúa, hiệp nhất chúng ta với anh em.

Theo sách giáo lý mới của Giáo Hội Công Giáo, thì công thức giải tội trong Giáo Hội La Tinh diễn tả được hết những yếu tố nòng cốt của Bí tích Giao Hòa : Chúa Cha giàu lòng thương xót là nguồn ơn tha tội ; Người thể hiện sự giao hòa các tội nhân nhờ mầu nhiệm Vượt qua của Con của Người và ban Thánh Thần để tha tội, qua lời cầu nguyện và thừa tác vụ của Hội Thánh (SGL 1449) :

“Thiên Chúa là Cha hay thương xót, Chúa đã dùng sự chết và sự sống lại của Con Chúa mà giao hòa thế gian với Chúa, và ban Thánh Thần để tha tội, xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh mà ban cho con ơn tha thứ và bình an, vậy cha tha tội cho con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.

 

C. CHÚA THÁNH THẦN VÀ HÀNH TRÌNH VƯỢT QUA CỦA HỐI NHÂN

Bí tích Giao Hòa cũng là dấu chỉ Mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Hối nhân phải thực hiện một cuộc hành trình để có thể cùng vượt qua với Đức Kitô, trở về với Thiên Chúa. Cuộc hành trình áy gốm một số bước căn bản, mà bứơc nào cũng phải có sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần.

Trước hết hối nhân phải sẵn sàng đón nhận bản án của Chúa Thánh Thần. theo Ga 16,8, Chúa Thánh Thần là Đấng kết án thế gian. Thánh Thần sẽ kết án thế gian trong con ngừơi chúng ta. Nếu chúng ta khiêm nhường nhận bản án của Người, chắc chắn ta sẽ được Người cứu độ. Bước thứ nhất này có thể gọi là ý thức tội lỗi. Ý thức tội lỗi là bước đầu tiên không thể thiếu được của hành trình vượt qua, càng để cho Chúa Thánh Thần tác động trên ta, chúng ta càng ý thức sâu xa tình trạng tội lỗi của mình, và ý thức này sẽ đưa chúng ta sang giai đọan thứ hai.

Bước thứ hai là sự ăn năn thống hối. Chính Chúa Thánh Thần thúc dục hốinhân hoán cải từ bên trong. Sự hoán cải bao gồm ít nhất ba yếu tố : sự hối hận, ứơc muốn sửa đổi và quyết tâm thi hành. Thánh Thần chính là tình yêu trong lòng hối nhân, khiến cho hối nhân hoán cải thật lòng. Sự thống hối đượm tình yêu này được thần học gọi là ăn năn cách trọn. Nhiều vị thánh được Thánh Thần ban cho ơn khóc tội. Thánh Thần còn là sức mạnh giúp cho hối nhân có thể thực hiện quyết tâm trở về của mình.

Hối nhân trở về với Thiên Chúa là để được lãnh nhận ơn tha tội. Ơn tha tội ấy cũng chính là Thánh Thần, Đấng sẽ thanh tẩy và thánh hoá tội nhân, làm cho tội nhân trở lại thánh thiện và tinh tuyền như trước. Ơn tha tội còn là ơn giao hoà chúng ta trở lại với Thiên Chúa và với anh em. Thánh Thần cũng chính là ơn thông hiệp, nối kết chúng ta lại với Đức Kitô và Thiên Chúa. Ngài cũng là sự sống mà Thiên Chúa ban lại cho chúng ta sau khi ta đã làm mất.

Điều cuối cùng mà hối nhân phải làm là bù đắp lại tội lỗi của mình. Dĩ nhiên chính Thiên Chúa không gắt gao đòi hỏi nơi hối nhân một sư đền bù cân xứng, vì điều này không thể thực hiện được. Việc đền tội mà hối nhân làm chỉ là dấu hệu của lòng thống hối ăn năn và quyết tâm chừa cải. Suy nghĩ sâu xa về việc đền tội, chúng ta sẽ thấy rằng không gì có thể hàn gắn lại tình yêu đã bị sứt mẻ. Chỉ có Chúa Thánh Thần là tình yêu tuyệt đối, là tình yêu của Thiên Chúa đổ trong lòng chúng ta mới có thể khỏa lấp muôn vàn tội lỗi.



hoa 4hoa 4hoa 4hoa 4hoa 4hoa 4